NGHỊ ĐỊNH Số: 58/2017/NĐ-CP: QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU CỦA BỘ LUẬT HÀNG HẢI VIỆT NAM VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HÀNG HẢI                                                                                                                                                                        QUYẾT ĐỊNH SỐ 1242/QĐ-CVHHVT: NỘI QUY CẢNG BIỂN VŨNG TÀU NĂM 2017



  ĐƯỜNG DÂY NÓNG
  CỤC HÀNG HẢI VIỆT NAM
 +84-(0)912439787
 +84-(0)24-37683191
  CẢNG VỤ HÀNG HẢI VŨNG TÀU
 +84-(0)918148252
 +84-(0)2543856270
 +84-(0)2543512811
 +84-(0)2543512237
CẤP ĐỘ AN NINH

ISPS security level in the port:1

Cấp độ an ninh tại cảng: 1

THƯ VIỆN ẢNH

  • Số người truy cập: 25844003
  • Đang online: 30
Lược sử

Lược sử Cảng vụ Hàng hải Vũng Tàu

  Cảng vụ Vũng Tàu (nay là Cảng vụ Hàng hải Vũng Tàu) được thành lập theo Quyết định số 534/QĐ-TCCB-LĐ ngày 22/3/1991 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải và Bưu điện về việc tổ chức lại Ty Hoa tiêu Cảng vụ Vũng Tàu thành Cảng vụ Vũng Tàu.

Những ngày đầu thành lập, Cảng vụ Vũng Tàu có cơ cấu tổ chức gồm 03 phòng nghiệp vụ: Hành chính tổng hợp, Tài vụ và Pháp chế; Cơ sở vật chất còn thiếu thốn: cơ quan chưa có trụ sở mà phải dùng chung trụ sở với Ty Hoa tiêu cảng Vũng Tàu, nhân lực có 13 người, trong đó có 03 đảng viên, chưa thành lập chi bộ mà sinh hoạt ghép với chi bộ Đại lý hàng hải Vosa Vũng Tàu.

Sau khi được thành lập, Cảng vụ Vũng Tàu triển khai công tác quản lý 03 phân cảng được công bố tại quyết định 706/QĐ-PC ngày 14/4/1987 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải, gồm: Phân cảng Xuất nhập dầu khí (nay là Cảng dầu khí ngoài khơi Mỏ Bạch Hổ); Phân cảng dịch vụ dầu khí chuyên dùng (nay là bến cảng Vietsopetro) và Phân cảng Cát Lở (nay là Bến cảng Thương cảng Vũng Tàu), với lượng tàu thuyền qua cảng trung bình khoảng 5 lượt tàu/ngày.

Trải qua 30 năm trưởng thành và phát triển, khắc phục những khó khăn, thiếu thốn, với tinh thần đoàn kết, cùng phấn đấu; đến nay cùng với Cảng vụ Hàng hải Thành phố Hồ Chí Minh, Cảng vụ hàng hải Vũng Tàu là 1 trong 2 Cảng vụ hàng hải đứng đầu cả nước với phạm vi quản lý rộng, có nhiều yếu tố đặc thù nhất cả nước; tổ chức bộ máy hợp lý, ổn định; nội bộ đơn vị đoàn kết, thống nhất; cơ sở vật chất tương đối khang trang, hiện đại; lượng tàu thuyền, hàng hóa, hành khách qua cảng và số thu ngân sách tăng trưởng hàng năm, cụ thể:

Cảng vụ Hàng hải Vũng Tàu hiện có cơ cấu tổ chức gồm 06 phòng nghiệp vụ (Phòng Thanh tra; Phòng Pháp chế; Phòng An toàn - An ninh hàng hải; Phòng Thủ tục tàu thuyền; Phòng Tài vụ và Phòng Tổ chức - Hành chính); 02 đại diện (Đại diện Cảng vụ hàng hải Vũng Tàu tại Phú Mỹ và Đại diện Cảng vụ hàng hải Vũng Tàu tại Côn Đảo) và Trạm Cảng vụ hàng hải Vũng Tàu tại Thị Vải với 66 công chức, viên chức, người lao động, cơ quan luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Tổ chức Đảng tại Cảng vụ Hàng hải Vũng Tàu là chi bộ cơ sở trực thuộc Đảng ủy Cục Hàng hải Việt Nam, với 28 đảng viên, là chi bộ nhiều năm liền đạt trong sạch vững mạnh và trong sạch, vững mạnh tiêu biểu.

Tổ chức Công đoàn tại Cảng vụ Hàng hải Vũng Tàu là Công đoàn cơ sở Cảng vụ Hàng hải Vũng Tàu trực thuộc Công đoàn Cục Hàng hải Việt Nam, hiện gồm có 09 tổ Công đoàn với tổng số đoàn viên công đoàn hiện nay 66/66 CBCCVC, chiếm tỷ lệ 100% CBCCVC người lao động trong đơn vị, nhiều năm liên tục đạt danh hiệu Công đoàn cơ sở Vũng mạnh xuất sắc.

Tổ chức Đoàn là Chi đoàn Cảng vụ Hàng hải Vũng Tàu trực thuộc Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Cục Hàng hải Việt Nam với 16 đoàn viên, nhiều năm liền đạt danh hiệu Chi đoàn vững mạnh.

Cơ sở vật chất: từ năm 1993 đến 2020, đơn vị có trụ sở đặt tại số 02 Quang Trung, phường 1, Thành phố Vũng Tàu, từ tháng 11/2020, đơn vị chuyển trụ sở về số 56 Trần Phú, phường 5, Thành phố Vũng Tàu. Đồng thời, đơn vị đang trong giai đoạn triển khai 02 dự án đầu tư xây dựng trụ sở Đại diện Cảng vụ Hàng hải Vũng Tàu tại Phú Mỹ và Côn Đảo; với 03 phương tiện thủy (01 tàu và 02 ca nô cao tốc), 01 xe ô tô chuyên dùng và hệ thống thông tin liên lạc, các phần mềm quản lý được đánh giá là ưu việt nhất trong khối các cảng vụ hàng hải. . . 

Trong phạm vi quản lý của Cảng vụ Hàng hải Vũng Tàu hiện nay có 76 dự án cảng; đã đưa vào khai thác 58 bến cảng (56 bến cảng biển và 02 bến phao), trong đó: khu vực Cái Mép Thị Vải là 24 dự án, chủ yếu là các bến cảng tổng hợp, container với trọng tải phổ biến trên 50.000-200.000DWT; khu vực Sông Dinh với 24 dự án chủ yếu là các bến cảng chuyên dụng phục vụ KCN, sửa chữa cấu kiện, giàn khoan, tàu biển với cỡ tàu phổ biến từ 3.000-10.000 DWT, trong đó có 02 bến phao khu vực vịnh Gành Rái cho tàu trọng tải 50.000 và 150.000 DWT để chuyển tải xăng dầu và các hàng hóa khác; khu vực Côn Đảo hiện có 01 bến cảng chủ yếu phục vụ khách du lịch và kết hợp xếp dỡ các hàng hóa khác cho huyện đảo và Khu vực cảng dầu khí ngoài khơi gồm 09 cảng.

Trong những năm qua, lượng tàu thuyền, hàng hóa, hành khách thông qua cảng biển Vũng Tàu tăng trưởng ổn định; riêng năm 2020 cảng biển Bà Rịa - Vũng Tàu đã có trên 95.000 lượt phương tiện vào rời cảng trong khu vực và khoảng trên 20.000 lượt tàu biển qua cảng biển Vũng Tàu trong khu vực để vào, rời các cảng khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương . . .; mức thu phí, lệ phí đạt 765 tỷ đồng; khối lượng hàng hóa đạt trên 113 triệu tấn, trong đó có hơn 7,5 triệu TEU container, chiếm 16% tổng hàng hóa cả nước và chiếm 34% tổng hàng container thông qua cảng biển Việt Nam. Đã tiếp nhận thành công một trong những tàu container lớn nhất thế giới hiện nay có trọng tải 214.121 DWT, qua đó đã nâng tầm vị thế của cảng biển Bà Rịa - Vũng Tàu và của Việt Nam.

Với vai trò, vị trí là cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về hàng hải tại các cảng biển thuộc địa phận tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Cảng vụ hàng hải Vũng Tàu đã chủ trì điều hành việc phối hợp hoạt động giữa các cơ quan quản lý nhà nước khác để thực hiện công tác quản lý nhà nước chuyên ngành tại cảng biển, kịp thời tham mưu và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chỉ đạo của Cục Hàng hải Việt Nam – của Bộ Giao thông vận tải cũng như cấp thẩm quyền trong việc triển khai một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác cảng biển như: rà soát đánh giá thực trạng và nghiên cứu hoàn thiện quy hoạch cảng biển; Tăng cường hạ tầng kết nối cảng; Triển khai các chính sách về điều chỉnh phí, lệ phí hàng hải, phí/ giá dịch vụ và bình ổn giá dịch vụ xếp dỡ; Tăng cường công tác cải cách thủ tục hành chính và triển khai các giải pháp liên quan khác nhằm hỗ trợ chủ tàu, doanh nghiệp cảng; hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao; chất lượng nguồn nhân lực và chất lượng công tác quản lý của đơn vị không ngừng được nâng lên, đứng vào tốp đầu trong khối các cảng vụ hàng hải.